Untitled Page
  "Kỹ thuật cao, chất lượng cao, hiệu quả cao"
Lượt truy cập: 479894
Đang trực tuyến: 12
                  Đề Án 06 
+ Lời giải từ những người dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm  
+ 3 cách thay thế thẻ bảo hiểm y tế giấy trong khám chữa bệnh 
+ Tài liệu tuyên truyền quy định của pháp luật về định danh và xác thực điện tử 
+ Thông tin cần biết về đề án 06, chuyển đổi số nền tảng kiến tạo
 
 
 
 
CHẢY MÁU MŨI

Giải phẫu mạch máu thành bên mũi “nguồn Bailey 2006-hình 36.1”

Chảy máu mũi là tai biến rất hay gặp, nó không phải là một bệnh mà là triệu chứng của nhiều bệnh do nhiều nguyên nhân gây ra. Đặc biệt những ngày thời tiết giá lạnh và khô hanh, số người bị chảy máu mũi tăng nhiều. Đây là một cấp cứu khẩn cấp, phải nhận định nhanh, xử trí cầm máu kịp thời.

Mũi được nuôi dưỡng bởi hai mạch máu chính.
1.1. Động mạch bướm khẩu cái (thuộc động mạch cảnh ngoài)
Động mạch cảnh ngoài cho nhánh bên là động mạch hàm trong. Sau khi đi qua hố chân bướm hàm, động mạch hàm trong cho nhánh tận là động mạch bướm khẩu cái. Tại lỗ bướm khẩu cái, động mạch này phân thành hai nhánh nhỏ:
- Nhánh ngoài: nuôi cuốn giữa và cuốn dưới.
- Nhánh trong: nuôi cuốn trên và vách ngăn.
1.2. Động mạch sàng trước và sau (thuộc động mạch cảnh trong)
Động mạch cảnh trong cho động mạch mắt. Sau khi đi qua lỗ thị vào ổ mắt, động mạch mắt cho hai nhánh bên là động mạch sàng trước và động mạch sàng sau, chui qua mảnh sàng xuống nuôi phần trước của mũi.
Hai động mạch bướm khẩu cái và động mạch sàng đan xen với nhau tạo thành một lưới mao mạch (ở phần trước dưới của vách ngăn hai bên hốc mũi) gọi là điểm mạch Kisselbach, đây là nơi rất dễ chảy máu mũi.

Vì sao bị chảy máu mũi?

-Niêm mạc mũi rất dễ chảy máu vì có nhiều mạch máu và mạng lưới mao mạch dày đặc.

- Chảy máu mũi có thể gặp ở mọi lứa tuổi nhưng hay gặp nhất ở người trên 40 tuổi (chiếm 64%), bởi thành mạch máu ở độ tuổi này đã kém dẻo dai, sức đàn hồi kém.

 - Chảy máu mũi hay gặp ở mùa khô hanh lạnh do độ ẩm không khí giảm, gây nứt nẻ niêm mạc mũi. Khi thời tiết, khí hậu thay đổi thất thường, ảnh hưởng nhiều đến một số bệnh như: tăng huyết áp, dị ứng, khô hanh nứt nẻ niêm mạc mũi gây chảy máu.

Nguyên nhân chảy máu mũi:

-Hầu hết trường hợp chảy máu mũi không dễ xác định nguyên nhân. Tuy vậy cũng có một số lý do dễ biết như: chấn thương, bị đánh đập vào mũi, do ngoáy mũi, cần chú ý là do không khí lạnh kích thích liên tục vào niêm mạc mũi cũng gây chảy máu.

- Các nguyên nhân gây chảy máu mũi ít gặp hơn là:

    +Bệnh máu không đông, thường do sử dụng những loại thuốc làm loãng      máu như warfarin, aspirin.

    +Bệnh gan cũng có thể làm máu khó đông.

    +Tăng huyết áp cũng có thể gây chảy máu nhưng không bao giờ là nguyên nhân duy nhất gây chảy máu mũi.

    +Các bệnh viêm mũi xoang cấp, viêm loét ở mũi, polyp, ung thư, cúm, sốt xuất huyết, bạch cầu cấp, xuất huyết giảm tiểu cầu, rối loạn đông máu…               

   +Phẫu thuật ở hốc mũi và hàm mặt.

Một nghiên cứu của Việt Nam lại cho thấy khoảng 70% bệnh nhân chảy máu mũi không tìm thấy nguyên nhân.

Điều quan trọng cần phải chẩn đoán phân biệt chảy máu mũi với các bệnh ở nơi khác chảy máu ra lỗ mũi như do khối u lành hay ác tính vùng vòm họng gây chảy máu, máu chảy từ họng, thanh quản sặc lên mũi, chảy máu do lao phổi, u máu, vỡ tĩnh mạch thực quản gây nôn, sặc lên mũi trong bệnh xơ gan, bệnh tăng áp lực tĩnh mạch cửa, vỡ các động mạch tầng giữa đáy sọ, chấn thương tai giữa…

Mức độ chảy máu mũi:       

-Chảy máu nhẹ: Bệnh nhân hoặc người nhà thấy máu đỏ tươi nhỏ từng giọt, số lượng ít hơn 100ml, soi đèn pin có thể thấy điểm chảy máu. Điểm chảy máu gọi là điểm mạch Kisselbach,  thường chảy máu ít, có xu hướng tự cầm.

-Chảy máu vừa: Máu chảy thành dòng ra ngoài lỗ mũi hoặc chảy xuống họng, số lượng từ 100 - 200ml. Có thể do chảy máu mao mạch của toàn bộ niêm mạc mũi, gặp ở bệnh ưa chảy máu, xuất huyết giảm tiểu cầu.

-Chảy máu nặng: Máu chảy nhiều thành dòng kéo dài, bệnh nhân trong trạng thái kích thích, hốt hoảng, môi mặt xanh nhợt, mạch nhanh, huyết áp hạ, số lượng máu mất nhiều hơn 200ml. Hay gặp chảy máu ở động mạch sàng trước, động mạch sàng sau, động mạch bướm khẩu cái, chảy máu nhiều không tự cầm, thường chảy ở sâu khó nhìn thấy.

Xử trí chảy máu mũi:

-Cấp cứu một bệnh nhân chảy máu mũi, phải nhanh chóng cầm máu rồi sau đó mới tìm nguyên nhân. Trường hợp chảy máu nặng phải chú ý tình trạng toàn thân của bệnh nhân bằng việc theo dõi sát mạch, huyết áp.

-Bệnh nhân cần được nghỉ ngơi yên tĩnh, ngồi hoặc nằm đầu cao, há miệng để thở và nhổ máu ra. Truyền dịch nếu có bệnh nhân bị trụy mạch, hạ huyết áp. Truyền máu nếu Hb thấp dưới 50%, nhất là trường hợp chảy máu nặng, tốt nhất là truyền máu tươi liều nhỏ (100ml) nhiều lần.

- Thuốc corticoid như depersolone tiêm tĩnh mạch được sử dụng trong chảy máu là cần thiết, nếu không có chống chỉ định.

-Dùng kháng sinh đề phòng nhiễm khuẩn.

-Dùng thuốc đông máu để làm tăng vững bền thành mạch, giảm thời gian chảy máu như adrenoxyl, tranesamic acid,... hoặc trực tiếp làm đông máu như vitamin K, sulfate de protamine.       

 * Cầm máu tại chỗ được thực hiện từ đơn giản đến phức tạp theo các bước sau:

- Dùng hai ngón tay bóp nhẹ cánh mũi ép vào vách ngăn tương ứng điểm mạch Kisselbach trong vài phút, áp dụng trong trường hợp chảy máu ít, chảy máu ở điểm mạch Kisselbach.

- Dùng bông có tẩm dung dịch cầm máu như ôxy già 12 thể tích, ephedrin 1-3% nhét vào lỗ mũi, ép đè lên chỗ chảy máu.

-Nhét mechè mũi trước: sau khi gây tê hốc mũi, dùng cuộn mechè có bề rộng 1 - 1,5cm, bề dài 50cm tẩm mỡ kháng sinh nhét vào mũi, chú ý nhét mechè có hình đáy võng để mechè không bị tụt xuống thành sau họng, nhét chặt từ sau ra trước cho tới khi đầy ra tận cửa mũi trước. Dùng đè lưỡi kiểm tra xem máu có chảy xuống thành sau họng hay không, nếu không thấy chảy xuống là tốt. Thời gian lưu mechè từ 24 -  48 giờ.  

-Trường hợp chảy máu nhiều do chấn thương, tăng huyết áp… nếu nhét mechè mũi trước mà chưa cầm máu thì phải nhét mechè mũi sau.

 Nhét mechè mũi sau: dùng cục gạc bịt kín cửa mũi sau để ngăn không cho máu chảy xuống thành sau họng, đường kính cục gạc khoảng 2 - 2,5cm, chiều cao 2,5cm có buộc dây ở giữa, mỗi đầu dài khoảng 30cm. Sau khi bịt kín được cửa mũi sau, phải tiếp tục nhét mechè mũi trước. Mechè mũi sau lưu từ 48 - 72 giờ, trong thời gian này phải điều trị kháng sinh để chống nhiễm khuẩn.

-Trường hợp chảy máu mao mạch, nhất là ở trẻ em, có thể dùng các loại protein tự tiêu có tác dụng cầm máu như spongel, người ta dùng Merocel là một loại bọt xốp có hình hố mũi, đặt vào mũi, tưới nước, nó nở căng to ôm khít lòng hố mũi, máu cầm ngay mà bệnh nhân không đau. Hoặc dùng bong bóng cao su cho vào mũi rồi bơm căng, lúc lấy ra chỉ cần xì hơi, rất tiện(các trường hợp chảy máu mũi nhẹ hoặc vừa).

-Hiện nay ở nước ta đã dùng đông điện dưới sự hướng dẫn của nội soi để cầm máu được áp dụng rộng rãi.

 -Các trường hợp phức tạp phải điều trị ngoại khoa: nút mạch, thắt động mạch.

 -Điều trị nguyên nhân: sau khi đã cầm máu tại chỗ, cần tìm nguyên nhân để điều trị

Xét nghiệm cận lâm sàng hổ trợ chẩn đoán:
- Công thức máu, máu chảy, máu đông
- Chức năng đông máu toàn bộ
- Công thức tiểu cầu
- Chức năng gan
- Huyết đồ, tuỷ đồ,…


BSCKII Nguyễn thị Hạnh
Thông tin cùng nhóm
Viêm xoang - Bệnh thời ô nhiễm môi trường !!!
 

Đông y coi bệnh viêm mũi, viêm xoang là do vi trùng, do thời k....

CHĂM SÓC NGƯỜI BỆNH CẮT AMIDAN
 

I.   MỤC ĐÍCH :

  • Theo dõi ph&aacut....
 
   
   
Trang chủ | Giới thiệu | Chuyên khoa | Dịch vụ | Tin tức | Liên hệ| DSLHKB
© BV Mắt - TMH - RHM An Giang
Designed by TVN