"Kỹ thuật cao, chất lượng cao, hiệu quả cao"
Lượt truy cập: 263327
Đang trực tuyến: 7
CÁC RĂNG CỬA HÀM TRÊN NGẦM NGUYÊN NHÂN, CHẨN ĐOÁN VÀ PHƯƠNG PHÁP ĐIỀU TRỊ

Mô hình răng

Dịch từ:Impacted maxillary incisors: Causes, Diagnosis and Management

IOSR Journal of Dental and Medical Sciences (IOSR-JDMS)

e-ISSN: 2279-0853, p-ISSN: 2279-0861.

Volume 5, Issue 2 (Mar.- Apr. 2013), PP 41-45

Người dịch: ThS.Bs. Phan Thị Trường Xuân

Tóm tắt : Nhiệm vụ của bác sĩ lâm sàng là phải tìm ra nguyên nhân và lên một kế hoạch điều trị thích hợp khi các răng cửa mọc không đúng theo lịch mọc răng. Răng cửa hàm trên ngầm không phải là trường hợp thường xuyên trong thực hành nha khoa, nhưng điều trị là thách thức vì nó có vai trò quan trọng liên quan đến thẩm mỹ trên khuôn mặt.

Mặc dù răng vĩnh viễn hiếm khi được chẩn đoán trong giai đoạn răng hỗn hợp nhưngrăng cửa giữa thường được chẩn đoán chính xác khi có sự chậm trễ theo lịchmọc răng.Chẩn đoán sớmlà rất quan trọng và phương pháp chỉnh hình kéo răng không chỉ cải thiện mối quan hệ của khung xương và loại bỏ những cản trở chức năng, mà còn có thể sửa chữa những rối loạn trong quá trình mọc răng.Bài báo này mô tảcác nguyên nhân, chẩn đoán sớm và phươngpháp điều trị răng cửa hàm trên ngầm bằngchỉnh nha.

Từ khoá:  rối loạn mọc răng, u răng, phương pháp điều trị bằng chỉnh nha.

I. GIỚI THIỆU

Các răng cửa và răng nanh hàm trên, thường được gọi là “bộ sáu xã hội”, là các răng nổi bật nhất của mỗi người khi cười. Chúng cũng là những răng được hiển thị rõ nhất trong giao tiếp của hầu hết mọi người. Sự mọc răng bình thường, vị trí và hình thái học của các răng này là rất quan trọng đối với thẩm mỹ mặt và phát âm.

Có rất ít nghiên cứu báo cáo về việc mất răng phía trước liên quan đến bất kỳ những vấn đề chức năngnào mặc dù những khó khăn về giọng nói thì đã được báo cáo, đặc biệt là với âm ‘s’. Thiếu răng cửa hàm trênthì trông có vẻ là không hấp dẫn, điều này có thể ảnh hưởng đến lòng tự trọng và tương tác xã hội nói chung, vì vậy điều quan trọng là cần phát hiện và quản lý vấn đề càng sớm càng tốt.

II.BÀN LUẬN

Định nghĩa

Các răng cửa hàm trênmọc trễ đòi hỏi phải theo dõi hoặc can thiệp khi:

1. Các răng bên đối diện đã mọc hơn sáu tháng trước;

2. Cả hai răng cửa giữa vẫn không mọc và các răng cửa dưới đã mọc hơn một năm trước;

3. Có sự sai lệch trong trình tự mọc răng (ví dụ như các răng cửa bên mọc trước các răng cửa giữa).

Tỉ lệ

Tỷ lệ răng cửa giữa hàm trên không mọc ở nhóm 5-12 tuổi đã được báo cáo là 0.13% [3]

Tại bệnh viện khu vực, tỷ lệ hiện mắc ước tính là 2,6%.

Nguyên nhân

Tổng quan tài liệu cho thấy một số nguyên nhân dẫn đếnsự sai lệch hoặc mọc chậm trễ của răng cửa hàm trên là:

Sai lệch mọc răng có thể xảy ra nếu có những cản trở bệnh lý như răng dư, u răng, u nang phát triển trong hướng mọc của răng cửa.

Răng dư và u răng là nguyên nhân phổ biến nhất: 56-60%răng dư làm răng cửa vĩnhviễn không mọc do cản trở hướng mọc răng.

Sai lệch trong mọc răng vĩnh viễn cũng có thể do dị dạng răng hoặc chân răng cong. Dị dạng xảy ra sau khi chấn thương răng sữa, nơi mà mầm răng vĩnh viễn đang phát triển bị tổn thương do gần với vị trí răng sữa. Mức độ tổn thương của răng vĩnh viễn phụ thuộc vào giai đoạn phát triển của răng, cũng như loại và hướng của chấn thương gây ra.

Các nguyên nhân khác làm cho răng cửa hàm trên không mọc là: vị trí sai lệch của mầm răng, răng sữa bị chết tủy hoặc bị cứng khớp, răng sữa bị nhổ (hoặc mất) sớm, những cản trở niêm mạc trong đường mọc rănghoạt động như một rào cản vật lý đối với sự mọc răng, bất thường nội tiết, bệnh lýxương [6] .

Chẩn đoán

Khám lâm sàng

Khám răng miệng: Cần tiến hành kiểm tra răng miệng để xác định các răng sữa tồn lưu, sưng phồng ở khẩu cái – má và khả năng có sẵn khoảng  thích hợp cho răng cửa (9mm đối với răng cửa giữa và 7mm đối với răng cửa bên).

Dấu hiệu lâm sàng quan trọng là lưu giữ quá lâurăng sữa tương ứng trong khi các răng vĩnh viễn bên đối diện  đã mọc; Giảm đáng kể khoảng cần thiết đủ chỗ cho răng vĩnh viễn mọc hoặc bị đóng khoảng; Xoay và độ nghiêng của răng kế cận; Độ dày của mô mềm khẩu cái hoặc niêm mạc môi tùy thuộc vào vị trí răng; Không có chỗ phồng ra ở rãnh má 1-1,5 năm trước thời gian dự kiến mọc răng [7] .

Dấu hiệu bệnh lý biểu hiện một răng cửa giữangầm là sự hiện diện trên cung răng của răng cửa bên, điều này cho thấy một sự bất thường trong quá trình mọc răng cửa giữa [8] .

Sai lệch trình tự mọc răng, ví dụ như các răng cửa bên mọc trước răng cửa giữa, hoặc răng kế cận đã mọc 6 tháng trước đó (với cả hai răng cửa giữa chưa mọc - các răng cửa dưới đã mọc một năm trước), là những dấu hiệu khác của răng cửa hàm trên mọc trễ.

Vị trí của các răng kế cận trên cung răng được lưu ý như là chúng nằm thẳng hoặc nghiêng về hướng răng bị thiếu. Điều này có thể hữu ích trong việc xác định vị trí của răng chưa mọc: một khi nó gần với đườngmọc răng bình thường thì các răng lân cận có thể nghiêng, nhưng khi răng chưa mọc xa với đường mọc răng bình thường thì các răng lân cận có thể đóng khoảng do chuyển động răng.

Khám vùng xương ổ răng

Thăm khám xương ổ răng là việc quan trọng xác định vị trí cuối cùng của răng không mọc được; Nó cũng có thể giúp lượng giá X-quang [9] .

Trên vùng thăm khám, bác sĩ lâm sàng có thể sẽ thấy một vùng nhôlên ở vòm miệng hoặc khối phồng ở môi, điều này giúp xác định vị trí của răng chưa mọc.  Để xác định vị trí thân răng ngầm, chúng tôi xác định vị trí không đau, không thể đè nén, chỗ nhô lên ở niêm mạc tiền hàm hoặc khẩu cái. Một gờ không có răng với răng dư kẻ giữanhỏ và kích thước khẩu cái –ngách hành lang không bình thường đó là dấu hiệu cho thấy răng ngầm ở sâu hơn.

Đánh giá X - quang

Chẩn đoánxác định răng ngầmvà vị trí của nó được xác định thông qua đánh giá X - quang [10 ].

X quang răng toàn cảnh(panorama) được xem là X quang chuẩn trong bước thăm khámđầu tiên và lên kế hoạch điều trị răng ngầm bởi panorama với một liều thấp trong khi cho điều tra tốt nhất về X quang. Phim này rất hữu ích bởi vì nó là phim duy nhất sẽ hiển thị toàn bộ bộ răng như một tổng thể, nó có thể tiết lộ sự tồn tại của một răng ngầm, mức độ tiêu ngót chân răng sữa tương ứng, và độ sâu của răng ngầm. Phim sọ mặt nghiêng là một phim khác đặc biệt hữu ích nếu có răng dư hoặc răng dị dạng hiện diện vì nó cho phép trực quan hoá theo chiều không gian[11].

Để đạt được phương pháp điều trị tốt nhất và lên một kế hoạch chiến lược thích hợp, bác sĩ chỉnh hình yêu cầu các thông tin sau: các vị trí chính xác của thân răng và chóp răng ngầm và định hướng 3 chiều theo trục dọc; khoảng cách răng ngầm đến chân răng kế cận; Sự hiện diện của các bệnh lý như răng dư, u răng, u hạt chóp răng hoặc nang răng và mối quan hệ không gian của chúng với chiếc răng ngầm; Sự hiện diện của các điều kiện bất lợi ảnh hưởng đến răng kế cận, bao gồm tiêu ngót chân răng; Giải phẫu 3 chiều của thân và chân răng ngầm.

CT đã tỏ ra vượt trội hơn so với các phương pháp X quang khác trong việc mô hình hoá các mô xương: hình ảnh CT 3D rõ ràng cho thấy vị trí trong miệng, độ nghiêng và hình thái học của răng ngầm cũng như khoảng cách đến các cấu trúc kế cận.

Do thông tin chi tiết thu được là ba chiều, chụp cắt lớp vi tính là phương pháp lựa chọn để xác định chính xác vị trí của răng không mọc và xác định bất cứ sự tiêu ngót nào của răng kế cận mà không thể phát hiện bằng các phương pháp khác. Thông tin chi tiết tuyệt vời và độ tương phản cao mà không làm mờ và chồng chéo các cấu trúc lân cận nhưng liều bức xạ cao, hạn chế tính khả dụng và chi phí cao.

Hình ảnh ba chiều cho phép phân tích vị trí chính xác và định hướng của răng ngầm, tình trạng liên quan đến những trở ngại cho sự mọc răng, giải phẫu bên trong và bên ngoài, độ dày của môi vàxương ổ; Bất kỳ sự tiêu ngót nào của các răng lân cận hoặc mất xương bệnh lý; Sự hiện diện hay mất liên tục của đường cản quang giữa chân răng và xương hàm(có thể là hiện tượng cứng khớp răng).

Gần đây, CT cone-bean(CBCT) đã được giới thiệu như một kỹ thuật dành riêng cho việc chụp phim nha khoa và các cấu trúc xương hàm mặt. Nó có một phần sáu bức xạ chụp cắt lớp vi tính, hiệu quả hơn về thời gian, tiết kiệm chi phí hơn, và vẫn có thể cung cấp hình ảnh ba chiều, phân biệt xương xuất sắc và cho số hình ảnh không giới hạn. Nhược điểm của nó bao gồm độ phân giải không gian của cấu trúc tinh tế là hơi thấp hơn CT và mô tả các mô mềm hạn chế (do liều phóng xạ thấp hơn) [12] .

Phương pháp điều trị

Mặc dù đã có một số cách tiếp cận khác nhau để điều trị răng cửa hàmtrên không mọctheo Y văn, nhưng một đặc điểm chung: chẩn đoán sớm là yếu tố quyết định cho sự thành công của việc điều trị. Người ta cho rằng thời gian mọc chậm càng ít thì kết quả điều trị càng tốt. Nếu có sự mấtkhoảng, thì điều cần thiết là phải qua giai đoạn tạo khoảng trước khi điều trị và duy trì khoảng suốt quá trình điều trị. Các kết quả điều trị khác nhau từ các phương pháp cổ điển đến các phương pháp tiến bộ hơn.

Phương cách điều trị cổ điển nhất sẽ loại bỏ bất kỳ cản trở nào, tạo ra khoảngvà quan sát răng mọc tự phát. 70% trường hợp đã được báo cáo là tự phát mọc sau khi loại bỏ các cản trở mọc răng mà không cần điều trị thêm [13] . Trong trường hợp có răng dư, thì thường có thể nhổ răng dư nhưng tránh làm hư hại răng cửa bên dưới, và tạo điều kiện cho răng cửa tự mọc lên.

Trong một số trường hợp, có thể cần đến phương pháp chỉnh hình [14] . Răng đã mọc xung quanh có thể được sử dụng làm neo chặn chỉnh hình để di chuyển răng vào cung răng sau khi phẫu thuật bọc lộ răng chưa mọc. Điều trị bệnh nhân có thể được chia thành ba giai đoạn: Trước phẫu thuật chỉnh hình, bọc lộ và gắn khí cụ, và sau khi phẫu thuật chỉnh hình. Trong giai đoạn trước khi phẫu thuật, các răng xung quanh sẽ được sử dụng làm neo chặn phải được gắn khí cụ liên kết, và phải tạo ra đủ khoảngchuẩn bị cho răng mọc. Nó cũng cần thiết loại bỏ bất kỳ cản trở nào (ví dụ răng dư). Bước tiếp theo là phẫu thuật bọc lộ răng không mọc được, có thể được thực hiện bằng cách sử dụng một trong ba phương pháp. Cắt bỏ nướu răng là thủ thuật được lựa chọn khi có kèm theo nướu răng và cấu trúc răng đầy đủ có thể được bọc lộ và gắn khí cụ. Ít nhất một nửa đến hai phần ba thân răng phải được bọc lộ. Ở những bệnh nhân có nướu dính không thích hợp hoặc nếu phẫu thuật cắt bỏ nướu làm tổn hại đến độ rộng nướu dính, thì nên lật vạt đến vị trí chóp răng. Phương pháp thứ ba là kỹ thuật mọc răng khép kín, trong đó một cái vạtcùng với nướu dính được lật lên và được đặt lại đầy đủ đúng vị trí ban đầu của nó sau khi đặt các khí cụ chỉnh hình. Nếu răng ngầm ở giữa xương ổ răng hoặc cao hơn là ở giữa gần gai mũi, kỹ thuật mọc răng khép kín có thể là sự lựa chọn điều trị. Một số răng bị ngầm rất cao ở  đường dọc giữa mà việc thực hiệnlật vạt đến chóp răng là rất khó hoặc không thể. Trong mọi trường hợp, sau khi bọc lộ, cách ly răng là cần thiết để gắn khí cụ. Cô lập và làm ngưng chảy máu có thể được hỗ trợ bằng cách sử dụng các thuốc cầm máu như Surgicel hoặc Gel-Foam xung quanh răng. Thân răng sau đó được xoi mòn bằng gel axit photphoric để làm giảm khả năng chất xoi mòn lan vào mô kế cận. Khu vực này sau đó được rửa sạch, làm khô và bôi keo gắn khí cụ (bonding). Cuối cùng, gắn mắc cài và cung môi hoặc một máng được gắn mắc cài vào. Trong trường hợp kỹ thuật khép kín, vạt được mở ra và khâu lại vị trí ban đầu. Còn tranh cãi về thời gian bác sĩ lâm sàng nên chờ đợi hay để sử dụng lực kéo sau phẫu thuật chỉnh hình khi bọc lộrăng và gắn khí cụ. Một số tác giả đề nghị áp dụng lực ngay sau khi bọc lộ răng. Những người khác khuyên bạn nên đợi từ một đến hai tuần. Quyết định này dường như phụ thuộc vào sở thích cá nhân của bác sĩ lâm sàng. Đã có báo cáo cho rằng việc điều trị các răng cửa hàm trênngầmtheo kỹ thuật khép kín có thể tạo ra những kết quả tốt lâu dài về thẩm mỹ.

Miễn là có đủ khoảng sẵn có, một chiếc răng sẽ tự mọc. Tuy nhiên, chỉnh nha đương đại có nhiều khí cụ làm sẵn để tiến hành quá trình này. Một sự thay thế cho lực kéo cơ học là việc sử dụng lực kéo từ trường. Nam châm được sử dụng trong chỉnh nha là sắt neodymium-boron và tạo ra từ trường tĩnh. Nam châm chứa neodymium chỉ bị phát hiện là dễ bị ăn mòn khi có mặt chất lỏng trong miệng, kết quả là việc thải ra các sản phẩm có khả năng gây hại. Các nam châm được phủ bằng Parylene (poly-para-xylene) ở các phần mỏng để tránh ăn mòn. Nghiên cứu cho thấy các từ trường tĩnh được tạo ra bởi các nam châm  đặt vào khí cụ chỉnh nha sẽ không gây ra bất kỳ sự thay đổi nào ở mô tủy hoặcmô nướu răng gần các nam châm. Kỹ thuật sử dụng nam châm để mọc răng liên quan đến việc sử dụng Fuji Ortho LC để gắn một nam châm neodymium-iron-boron 3x3x1mm vào răng ngầm và một nam châm 5x5x2mm vào một khí cụ tháo lắp. Trong quá trình mọc răng, nam châm trong thiết bị có thể được thay đổi để tạo hướng di chuyển chính xác cho răng. Di chuyển răng nên xấp xỉ với tốc độ một milimet mỗi tháng. Ưuđiểm của việc sử dụng nam châm để hỗ trợ cho sự mọc răng bao gồm khả năng tạo ra lực đo lường được liên tục trong một khoảng thời gian dài và vị trí của nam châm bác sĩ lâm sàng có thể điều chỉnh được sao cho răng có thể mọc vào vị trí lý tưởng. Ngoài ra, rất ít cần điều chỉnh khí cụ trong toàn bộ quá trình điều trị, như vậy trái ngược các khí cụ cơ học là cần các điều chỉnh thường xuyên. Nhược điểm bao gồm thực tế là lực giữa hai nam châm giảm đáng kể khi gia tăng khoảng cách. Hơi nóng và dung dịch nóng làmnam châm dễ mất từ trường, và do đó mất lực. Cuối cùng, tính chất ăn mòn của sắt-boron neodymium là bất lợi.

Phương pháp chỉnh nha có thể không hiệu quả đến việc đưa răng vào khớp cắn nếu răng chưa mọc đã cứng khớp. Khả năng xảy ra đối với một răng cửa đang mọc trở thành cứng khớp ở một số điểm trong thời gian mọc răng. Có rất ít tài liệu về điều trị trong trường hợp như vậy; Tuy nhiên, theo Y văntìm thấy trong điều trị răng cửa đã cứng khớp là do chấn thương. Cứng khớp răng xảy ra khi sự tiêu ngót thay thế xảy ra ở lớp trong cùng của dây chằng nha chu và có thể tại cement. Quá trình lành thương từ xương ổ răngkế cận gây ra cứng khớp. Trong trường hợp một phần thân răng lâm sàng bị lộ ra, chẩn đoán lâm sàng sớm bao gồm test gõ khi có thay đổi trong âm thanh gõ và sự giảm xuống rõ rệt về sinh lý học bình thường. Bác sĩ lâm sàng phải thận trọng trong việc sử dụng âm thanh gõ như một phương pháp chẩn đoán. Không được bỏ qua khả năng âm tính giả. Trong những trường hợp răng cửa vẫn chưa mọc và bị ngầm hoàn toàn, test gõ sẽ không thể thực hiện. Khi một răng cửa đã được kết luận là cứng khớp, bác sĩ lâm sàng có thể cố gắng phẫu thuật loại bỏ cứng khớp trong khi vẫn duy trì cung cấp máu quanh chóp răng trong cùng thời điểm đó. Điều này dẫn đến kết quả phản ứng viêm kích thích sự hình thành một dây chằng sợi mới. Áp dụng lực chỉnh hìnhngay sau đó để ngăn ngừa tái cứng khớp. Kỹ thuật này có rất ít lợi ích bởi vì tái cứng khớp thường gặp lạiở răng loại bỏ cứng khớp rồi sử dụng ngay lập tức lực chỉnh hình. Chaushu, Becker, đề xuất các hướng dẫn để điều trị phẫu thuật chỉnh hình răng cứng khớp chắc chắn thành công. Thứ nhất, thủ thuật giải cứng khớp thích hợp nên được thực hiện mà kết quả là răng di động ở mức độ 3. Thứ hai, một lực đè mạnh nên được áp dụng kịp thời. Thứ ba, lựckéo ra cần được duy trì thường xuyên một cách thích hợp bằng cách thường xuyên đổi mới lực kéo đàn hồi. Quá trình hình thành xương, một kỹ thuật để hình thành xương mới qua chuyển động xương, cũng được mô tả trong tài liệu. Sau khi phẫu thuật, một thiết bị phân lyđược đặt vào. Các thiết bị này có thể bao gồm từ một thanh nẹp acrylic thông thường và một ốc nới rộng gắn liền với răng cửa bị cứng khớp, đến răng  đơn không cần lực kéo. Cần có thời gian nghĩ trước khi bắt đầu giai đoạn kéo răng. Người ta đề cập rằng kéo răng theo chiều dọc có thể là không đạt yêu cầu chức năng và thẩm mỹvì tác động không đồng thời lên răng ngầm của các thiết bị phân ly trong miệng. Có thể các thiết bị phân ly cần phải được sử dụng kết hợp với các cách tiếp cận khác.

Nếu một răng cửa ngầm có liên quan với một nang, phương pháp cổ điển được ưa thích hơn trong kế hoạch điều trị để ngăn ngừa mất răng cửa. Khi giữ răng là mong muốn đối với một bệnh nhân trẻ tuổi, nơi tổn thương được cô lập, lộn túilà điều trị được lựa chọn. Lộn túi là một thủ thuật liên quan đến việc tạo ra một cửa sổ phẫu thuật trong thành của nang răng. thành nang được thông liên tục với khoang miệng. Việc mở cửa sổ phải được duy trì một cách nhân tạo để ngăn chặn sự tự đóng. Các u nang vẫn mở nhiềutháng cho phép khoang được làm đầy bởi xương mới tạo. Răng sau đó được mọc tự nhiên hoặc được chỉnh về vị trí đúng. Bằng cách sử dụng thủ thuật lộn túi, điều trị là tự động và có thể ngăn ngừa chấn thương tâm lý và tinh thần [15] .

Một lựa chọn điều trị cuối cùng, chỉ nên được sử dụng trong trường hợp răng cửa chưa mọc là lệch vị trí nghiêm trọng hoặc nếu có bệnh lý lan tỏa và/hoặc nguy cơ cho răng liền kề, là nhổ răng ngầm. Trong trường hợp chân răng bị cong nhiều, có thể chân răng theo hướng môi bị ngầm trong phiếm xương mặt má. Vì lý do này, các răng cửa có chân răng cong thường phải nhổ. Điều cần thiết phải làm thật cẩn thận để tránh làm hỏng răng kế cận. Bác sĩ phẫu thuật cũng nên có biện pháp phòng ngừa để tránh làm mất xương ổ răng và có thể ảnh hưởng xấu đến điều trị trong tương lai bao gồm khả năng thay thế bằng một cầu răng, implant, hoặc đóng khoảng chỉnh hình răng [16].

III.KẾT LUẬN

Các thay đổi trong các quá trìnhmọc răng bình thường của răng cửa hàm trên không phải là không phổ biến đối với trẻ em. Theo vị trí thì răng cửa hàm trên thường làm cha mẹ lo lắng khiquá trình mọc răng không tuân theo các khuôn mẫu bình thường. Điều này sẽ nhắc nhở phụ huynh tìm đến bác sĩ chỉnh nha điều trị cho con để ngăn ngừa các hậu quả về tâm lý khi trẻ có những bất thường của răng trước hàm trên. Để điều trị đúng cách cho các trường hợp này, bác sĩ lâm sàng phải có kiến ​​thức về phân loại, nguyên nhân và phương thức điều trị  đối với các rối loạn mọc răng của các răng cửa hàm trên. Điều quan trọng là phải  thăm khám để có được một chẩn đoán chính xác. Các bài thuyết trình lâm sàng về rối loạn mọc răng này có thể là biểu hiện của một bệnh lý tại chỗ hay bệnh lý toàn thân. Trong nhiều trường hợp,có thể là không cần thiết điều trị ngoại trừ việc tạo ra khoảng trống và cho phép răng tự mọc trong một thời gian. Các trường hợp khác đòi hỏi phải can thiệp phẫu thuật và/hoặc chỉnh nha. Mỗi trường hợp phải được điều trị độc lập trong việc lên kế hoạch điều trị thích hợp và để đạt được kết quả tốt nhất có thể cho mỗi bệnh nhân. ( đề nghị bổ sung hình ảnh ca lâm sàng, bài sẽ thuyết phục hơn)

 

TÀI LIỆU THAM KHẢO

[1]. Snow K. Articulatory Proficiency in Relation to Certain Dental Abnormalities. Journal of Speech and Hearing Disorders 1961; 26: 209–12.

[2]. Shaw WC, O’Brien KD, Richmond S, Brook P. Quality control in orthodontics: risk/benefit considerations. Br Dent J 1991; 170: 33–37

[3]. Mac Phee CG. The incidence of erupted supernumerary teeth in consecutive series of 4000 school children. Br Dent J 1935; 58: 59–60

[4]. Huber KL, Suri L, Taneja P. Eruption disturbances of the maxillary incisors: a literature review 1. J Clin Pediatr Dent. 2008;32(3):221–230.

[5]. Smailiene D, Sidlauskas A, Bucinskiene J. Impaction of the central maxillary incisor associated with supernumerary teeth: initial position and spontaneous eruption timing. Stomatologija. 2006;8(4):103–107.

[6]. Jones JW. A Medico-legal Review of Some Current UK Guidelines in Orthodontics: A personal View. J Orthod. 1999;26:307–324.

[7]. Becker A. The orthodontic treatment of impacted teeth. 1998

[8]. Chokron A, Reveret S, Salmon B, Vermelin L. Strategies for treating an impacted maxillary central incisor. Int Orthod. 2010 Jun;8(2):152–176.

[9]. Brin I, Zilberman Y, Azaz B. The unerupted maxillary central incisor: review of its etiology and treatment. ASDC J Dent Child. 1982 Sep-Oct;49(5):352–356.

[10]. Douglas DE. Management of impacted anterior teeth utilizing basic orthodontic principles. ASDC J Dent Child. 1989;56(5):353–357.

[11]. Smailiene D, Sidlauskas A, Bucinskiene J. Impaction of the central maxillary incisor associated with supernumerary teeth: initial position and spontaneous eruption timing. Stomatologija. 2006;8(4):103–107

[12]. Chaushu S, Chaushu G, Becker A. The role of digital volume tomography in the imaging of impacted teeth. World J Orthod. 2004;5(2):120–132.

[13]. Kramer RM. Williams AC. The incidence of impacted teeth. A survey at Harlem hospital. Oral Surg., Oral Med., Oral Pathol, 29: 237–241, 1970.

[14]. Oliver RG. Hardy P. Practical and theoretical aspects of a method of orthodontic traction to unerupted teeth illustrated by three cases. Brit J Orthod, 13: 229–236, 1986.

[15]. Jena AK. Duggal R. Roychoudhury A. Parkash H. Orthodontic assisted tooth eruption in a dentigerous cyst: a case report. J Clin Pediatr Dent,29: 33–35, 2004.

[16]. Jones JW. Husain J. Management of the unerupted incisor. Dent Update, 23: 36–39, 1996. 


Người dịch: ThS.Bs. Phan Thị Trường Xuân
Thông tin cùng nhóm
Trăm thứ bệnh bắt đầu từ... miệng
 

Chúng ta biết rằng các loại thực phẩm, nước uống kể cả bia rượu, khói thu....

Chuyện cái răng cái tóc
 

Người xưa có câu: “Cái răng....

DINH DƯỠNG VỚI SỨC KHỎE RĂNG MIỆNG
 

Vai trò của dinh dưỡng với sức khỏe răng miệng:

Như ....

NHỮNG KHUYẾN NGHỊ PHƯƠNG CÁCH CHẾ NGỰ ĐAU THẦN KINH SINH BA TỰ PHÁT
 

  ThS.Bs. Phan Thị Trường Xuân
Dịch từ: Medical progr....

HƯỚNG DẪN ĐÁNH GIÁ NGUY CƠ VÀ XỬ TRÍ SÂU RĂNG Ở TRẺ NHỎ, TRẺ EM, TRẺ VỊ THÀNH NIÊN
 

Với quan điểm định hướng chiến lược “Sức khỏe răng miệng là một yếu tố quyết định....

Quy trình dinh dưỡng cho các bệnh theo chuyên khoa
 
Tổ dinh dưỡng  ban hành quy trình dinh dưỡng cho các bệnh theo chu....
 
   
   
Trang chủ | Giới thiệu | Chuyên khoa | Dịch vụ | Tin tức | Liên hệ| DSLHKB
© BV Mắt - TMH - RHM An Giang
Designed by TVN